Ngày 28/02/2006, Thủ tướng ban hành Quyết định số 45/2006/QĐ-TTg về việc ban
hành Quy chế cấp và quản lý thẻ đi lại của doanh nhân APEC.
Ngày 18/9/2006, Bộ Công an ban hành
Thông tư số 10/2006/TT-BCA về việc thực hiện Quy chế cấp và quản lý thẻ đi lại
của doanh nhân APEC
Theo đó, hồ sơ đề nghị cấp thẻ nộp
tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an, gồm:
a- 01 tờ khai đề nghị cấp thẻ
(theo mẫu do Cục Quản lý xuất nhập cảnh ban hành), có xác nhận của Thủ trưởng
doanh nghiệp hoặc cơ quan trực tiếp quản lý doanh nhân.
b- 04 ảnh cỡ 3x4cm, nền trắng,
mặt nhìn thẳng, đầu để trần (01 ảnh dán vào tờ khai có đóng dấu giáp lai của
doanh nghiệp hoặc cơ quan trực tiếp quản lý doanh nhân và 03 ảnh để rời).
c- Văn bản cho phép sử dụng
thẻ của cấp có thẩm quyền. Cụ thể:
- Văn bản của Thủ tướng Chính
phủ nếu là doanh nhân do Thủ tướng bổ nhiệm chức vụ hoặc trực tiếp quản lý;
- Văn bản của Thủ trưởng cơ
quan cấp Bộ (hoặc cấp tương đương), nếu là doanh nhân do Thủ trưởng cơ quan cấp
Bộ (hoặc cấp tương đương), bổ nhiệm chức vụ hoặc là doanh nhân làm việc tại
doanh nghiệp do cơ quan cấp Bộ (hoặc cấp tuơng đương) ra quyết định thành lập
hoặc trực tiếp quản lý.
- Văn bản của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh nếu là doanh nhân do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ
nhiệm chức vụ hoặc là doanh nhân làm việc tại doanh nghiệp do Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh ra quyết định thành lập hoặc trực tiếp quản lý.
(Khi nộp hồ sơ đề nghị cấp thẻ,
doanh nhân phải xuất trình hộ chiếu còn giá trị.)
* Tại Tp.HCM, theo quyết định số
108/2007/QĐ-UBND, ngày 01/8/2007 và Quyết định số 116/2007/QĐ-UBND ngày
288/2007 quy định hồ sơ để được cấp văn bản cho phép sử dụng thẻ gồm:
a) Văn bản đề nghị của doanh nghiệp do Thủ trưởng doanh
nghiệp ký tên và đóng dấu (theo mẫu);
b) Các loại hợp đồng kinh tế hoặc dự án đầu tư hợp tác với
các đối tác thuộc nền kinh tế thành viên tham gia ABTC. Nếu các văn bản bằng
tiếng nước ngoài phải có bản dịch tiếng Việt kèm theo;
c) Số bộ hồ sơ: 2 bộ, trong đó có 1 bộ chính.
* Tai Hà Nội, theo website của Sở ngoại
vụ - UBND Tp.Hà Nội thì hồ sơ nộp tại Sở ngoại vụ gồm:
- Văn bản xin phép sử dụng thẻ ABTC có xác nhận của đại diện
theo pháp luật của doanh nghiệp (theo mẫu của Sở Ngoại vụ Hà Nội);
- Bản sao giấy phép đăng ký kinh
doanh;
- Bản sao văn bản thực hiện nghĩa vụ
thuế với nhà nước 06 tháng gần nhất;
- Các loại hợp đồng kinh tế được ký kết với đối tác nước
ngoài thuộc các nền kinh tế thành viên APEC (kèm theo các văn bản thể hiện hợp
đồng ký kết đã được thực hiện như : thanh lý hợp đồng, hợp đồng XNK kèm tờ khai
hải quan và hoá đơn nộp thuế v.v…) hoặc các tài liệu liên quan chứng minh có
nhu cầu thường xuyên đi lại vì mục đích thương mại trong khối APEC. Nếu các văn
bản bằng tiếng nước ngoài phải có bản dịch tiếng Việt kèm theo;
- Bản sao các quyển hộ chiếu thể hiện nhu cầu đi lại thường
xuyên vì mục đích thương mại trong khối APEC.
Theo
đó thì không thấy nhắc đến giấy chứng nhận xuất nhập khẩu mà là hợp
đồng kinh tế kèm theo chứng từ xuất nhập khẩu hoặc bạn có tài liệu khác
chứng minh thỏa mãn điều kiện có
nhu cầu thường xuyên đi lại vì mục đích thương mại trong khối APEC (như có dự án đầu tư hợp tác với đối tác nước ngoài)
Chà, xem ra thì quy định ở Tp.HCM có lẽ đơn giản hơn.
Vào http://www.thuvienphapluat.com
, Bạn có thể tham khảo những văn bản sau:
1) Quyết định số 45/2006/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế cấp và quản lý thẻ đi
lại của doanh nhân APEC do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 28/02/2006.
2) Thông tư số 10/2006/TT-BCA về việc thực hiện Quy chế cấp và quản lý thẻ đi
lại của doanh nhân APEC theo Quyết định số 45/2006/QĐ-TTg ngày 28/02/2006 của
Thủ tướng Chính phủ do Bộ Công an ban hành ngày 18/9/2006.
3) Quyết định số 50/2006/QĐ-BTC về quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý
và sử dụng lệ phí cấp thẻ Apec của doanh nhân Apec do Bộ Tài chính ban hành
ngày 22/9/2006..
4) Quyết định số 108/2007/QĐ-UBND về việc ban hành Quy chế xét cho phép sử dụng
thẻ đi lại của doanh nhân Apec thuộc thành phố Hồ Chí Minh do Ủy ban nhân dân
thành phố Hồ Chí Minh ban hành ngày 01/8/2007.
5) Quyết định số 116/2007/QĐ-UBND, ngày 28/8/2007, sửa đổi khoản 2 Điều 3 Quy
chế về xét cho phép sử dụng thẻ đi lại của doanh nhân APEC thuộc thành phố Hồ
Chí Minh ban hành kèm theo Quyết định số 108/2007/QĐ-UBND ngày 01 tháng 8 năm
2007.
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
Theo quyết định vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành, doanh nhân VN có
thể dùng thẻ ABTC để đi lại trong 17 thành viên của khối APEC.
Thẻ đi lại của doanh nhân APEC (thẻ ABTC) không phải
là một hình thức “miễn thị thực nhập cảnh” mà là thỏa thuận chung của
17/21 thành viên khối APEC. Ông Đặng Văn Tôn, phó trưởng bộ phận pháp
chế của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an, trao đổi như vậy với TS ngày 6-3.
Thẻ ABTC là một loại giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền
của nước và vùng lãnh thổ tham gia chương trình thẻ đi lại của doanh
nhân APEC cấp cho doanh nhân của mình để tạo thuận lợi trong việc đi
lại thực hiện các hoạt động hợp tác kinh doanh, thương mại, đầu tư,
dịch vụ; tham dự các hội nghị, hội thảo và các mục đích kinh tế khác
tại các nước và vùng lãnh thổ thuộc APEC tham gia chương trình. Người
mang thẻ ABTC, khi nhập cảnh, xuất cảnh các nước và vùng lãnh thổ có
tên ghi trong thẻ thì không cần phải có thị thực của các nước và vùng
lãnh thổ đó.
Ông Đặng Văn Tôn cho biết thẻ ABTC có giá trị sử dụng trong ba năm và không được gia hạn.
Trường hợp thẻ hết hạn, doanh nhân cần làm thủ tục đề nghị cấp lại thẻ
mới. Đặc biệt, thẻ ABTC chỉ có giá trị nhập cảnh, xuất cảnh khi người
mang thẻ xuất trình kèm theo hộ chiếu hợp lệ. Mỗi lần nhập cảnh, người
mang thẻ ABTC được các nước và vùng lãnh thổ thành viên cấp chứng nhận
tạm trú theo thời hạn qui định của các nước hoặc vùng lãnh thổ đó
(doanh nhân nước ngoài vào VN được tạm trú 90 ngày).
|
Hiện
có 17 nước và vùng lãnh thổ tham gia chương trình thẻ ABTC gồm Úc,
Brunei, Chile, Trung Quốc, Hong Kong, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Malaysia, New Zealand, Papua New Guinea, Peru, Philippines, Singapore,
Đài Loan, Thái Lan và VN.
|
Ai được cấp thẻ ABTC?
Một là doanh nhân VN làm việc tại các doanh
nghiệp (DN) nhà nước, gồm chủ tịch HĐQT, tổng giám đốc các tổng công ty
91; tổng giám đốc, phó tổng giám đốc; giám đốc, phó giám đốc các DN,
khu công nghiệp, khu chế xuất của VN; giám đốc, phó giám đốc ngân hàng
VN, giám đốc, phó giám đốc chi nhánh ngân hàng VN; kế toán trưởng,
trưởng và phó phòng các DN, khu công nghiệp, khu chế xuất, ngân hàng,
chi nhánh ngân hàng VN.
Hai là doanh nhân VN làm việc tại các DN được
thành lập theo Luật DN, Luật hợp tác xã và Luật đầu tư tại VN, gồm tổng
giám đốc, phó tổng giám đốc; giám đốc, phó giám đốc các DN; kế toán
trưởng hoặc người có chức danh trưởng phòng trong các DN ngoài quốc
doanh; chủ tịch, phó chủ tịch HĐQT công ty cổ phần; chủ tịch, phó chủ
tịch hội đồng thành viên, chủ tịch, phó chủ tịch công ty TNHH; chủ tịch
ban quản trị và chủ nhiệm hợp tác xã.
Ngoài ra, các vị là lãnh đạo các ngành kinh tế, thủ
trưởng cấp bộ, chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
trực tiếp quản lý chuyên ngành về các hoạt động của các DN VN có nhiệm
vụ tham dự các cuộc họp, hội nghị và các hoạt động về hợp tác, phát
triển kinh tế của APEC; công chức, viên chức nhà nước có nhiệm vụ tham
dự các cuộc họp, hội nghị, hội thảo và các hoạt động kinh tế khác của
APEC; trưởng, phó cơ quan đại diện thương mại VN tại các nước và vùng
lãnh thổ thành viên tham gia chương trình ABTC cũng được xem xét cấp
thẻ ABTC.
Thủ tục cấp thẻ
Các doanh nhân trên khi có nhu cầu cấp thẻ ABTC sẽ nộp
hồ sơ tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Bộ Công an). Hồ sơ gồm: một tờ
khai đề nghị cấp thẻ ABTC, có dán ảnh, đóng dấu giáp lai và xác nhận
của thủ trưởng DN hoặc cơ quan tổ chức cán bộ các ngành kinh tế, quản
lý nhà nước chuyên ngành về các hoạt động của các DN (theo mẫu của Bộ
Công an); văn bản xét cho phép sử dụng thẻ ABTC của cấp có thẩm quyền
(tùy theo đối tượng mà có thể là Thủ tướng Chính phủ, thủ trưởng cấp bộ
hoặc tỉnh).
Trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được ý kiến
đồng ý cấp thẻ ABTC của cơ quan có thẩm quyền của nước hoặc vùng lãnh
thổ, Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an sẽ cấp thẻ ABTC cho người đề
nghị. Như vậy theo nguyên tắc, thời gian chờ đợi để được cấp thẻ ABTC chậm nhất là sáu ngày (không tính ngày nghỉ). Người được cấp thẻ ABTC phải nộp lệ phí theo qui định.
Cũng theo ông Đặng Văn Tôn, việc cấp thẻ ABTC sẽ có
hiệu lực 15 ngày sau khi đăng trên công báo Chính phủ. Bộ Công an sẽ
phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại hướng dẫn cụ thể một số nội
dung của qui chế cấp và quản lý thẻ ABTC cho doanh nhân.
N.V.HẢI