|
Văn hoá Nhật Bản ngày nay là kết tinh thành quả
lao động hàng ngàn năm của những cư dân trên quần đảo Nhật Bản, là sự
kết hợp sáng tạo những giá trị văn hoá bản địa và các giá trị văn hoá
nước ngoài, cũng do vậy, là nơi hội tụ của văn hoá phương Đông và phương
Tây.
Trước khi có tiếp xúc văn hoá đầu tiên với Trung
Quốc trên quần đảo này đã tồn tại những cộng đồng người với những đặc
trưng sinh hoạt văn hoá riêng. Những giá trị tinh thần thể hiện nhân
sinh quan và thế giới quan độc đáo của những cư dân cổ xưa trên quần đảo
này còn lưu lại khá rõ nét trong các vật phẩm chế tác, các truyền
thuyết, nhất là trong những tín ngưỡng đa thần mà sau này được gọi chung
là Thần đạo.
Sự ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc, đặc biệt là chữ Hán, Phật giáo, Nho
giáo, Đạo giáo bắt đầu vào thế kỷ thứ IV sau công nguyên đã làm thay
đổi to lớn diện mạo văn hoá Nhật Bản từ lối sống trong triều đình Thiên
hoàng đến sinh hoạt ngoài dân chúng. Cùng với thời gian các giá trị văn
hoá này đã dần dần biến đổi, kết hợp với các giá trị văn hoá bản địa,
nhất là với Thần đạo để tồn tại, phát triển và tạo nên những nét đặc
trưng riêng của văn hoá Nhật Bản.
Khoảng giữa thế kỷ XVI đã xuất hiện những người phương Tây đầu tiên đến
Nhật Bản đem theo sự ảnh hưởng của những tri thức khoa học phương Tây và
Kitô giáo. Tuy nhiên phải đến cuộc cải cách Minh Trị (1868) thì tiếp
xúc của Nhật Bản với văn hoá phương Tây mới trở nên đậm nét. Với đường
lối mở cửa đất nước để học hỏi phương Tây, chỉ trong vài thập kỷ sau đó
Nhật Bản đã trở thành một quốc gia hùng mạnh với cơ sở kinh tế, thể chế
chính trị và mô hình xã hội, văn hoá hiện đại- điều mà phương Tây đã
phải mất hàng thế kỷ mới có được.
Sau kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ II, mặc dù là một nước bại trận
với nền kinh tế kiệt quệ song nhờ tinh thần quyết tâm cao độ Nhật Bản đã
tạo nên một kỳ tích trong phục hồi kinh tế. Đến giữa những năm 1960
Nhật Bản đã có đủ sức mạnh để cạnh tranh trên trường quốc tế. Theo đó,
nền văn hoá hiện đại cũng nhanh chóng phát triển ngày một đa dạng trên
cơ sở phát huy những giá trị truyền thống và tiếp thu những thành quả
tiến bộ của văn hoá nước ngoài.
Tuy là là một nền văn hoá phát triển mang tính hỗn dung, song việc tiếp
thu các thành quả văn hoá nước ngoài của Nhật Bản không phải là việc vay
mượn, sao chép cứng nhắc, mà luôn luôn là quá trình tiếp thu có cải
biến. Tư tưởng, tín ngưỡng, lối sống nước ngoài một khi được du nhập vào
Nhật Bản đều buộc phải biến đổi để phù hợp với hệ giá trị văn hoá bản
địa và tồn tại như là cái có tính độc đáo Nhật Bản. Chính nhờ vậy mà
ngày nay Nhật Bản không chỉ là một cường quốc hàng đầu thế giới về kinh
tế mà còn là đất nước có nền văn hoá phát triển đa dạng và giàu bản sắc
Tư tưởng và Tôn giáo
Thần đạo (Shintò) là một tôn giáo đa thần, có nguồn gốc từ những tín
ngưỡng thời cổ xưa ở Nhật Bản. Người ta thờ cúng các sự vật, hiện tượng
được coi là có năng lực linh thiêng trong tự nhiên và xã hội, như đỉnh
núi, con sông, biển, mặt trời, mưa, dông bão, các vị anh hùng và tổ tiên
để mong được sự phù hộ, chở che trong cuộc sống hiện tại. Những truyền
thuyết về nguồn gốc thần linh của Hoàng tộc đã trở thành một phần quan
trong của giáo lý Thần đạo. Từ Thần đạo (Shintò) chỉ những nghi lễ tế
thần và đền thờ được thấy xuất hiện rất sớm, nhưng phải đến tận cuối thế
kỷ thứ XII thuật ngữ này mới mang ý nghĩa chỉ một loại giáo lý tôn giáo
nhất định. Thần đạo có một quá trình kết hợp lâu dài với Phật giáo dưới
dạng tín ngưỡng Thần Phật tập hợp. Đầu thế kỷ XIX một phong trào Thần
đạo phục cổ đã nổi lên và dần chiếm ưu thế, Phật giáo bị tách ra khỏi
Thần đạo vì bị coi là một tôn giáo ngoại lai. Sau cải cách Minh Trị và
đặc biệt trong Chiến tranh Thế giới thứ II, Thần đạo được các nhà chức
trách đưa lên thành quốc giáo. Kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ II quân
Đồng Minh đã chiếm đóng Nhật Bản, giải thể Thần đạo Nhà nước- một tổ
chức Thần đạo được coi là có liên quan đến việc cổ súy tư tưởng dân tộc
cực đoan và chủ nghĩa quân phiệt. Theo Hiến pháp Nhật Bản sau chiến
tranh, Thần đạo không còn được hưởng bất kỳ một đặc quyền nào và tồn tại
bình đẳng như các tôn giáo khác. Ngày nay trong ý thức dân chúng Thần
đạo tồn tại song song và đôi khi hoà trộn với Phật giáo. Nhiều người
Nhật kết hôn theo nghi thức Thần đạo và được mai táng theo nghi thức
Phật giáo.
Phật giáo được truyền vào Nhật Bản khoảng năm 552 sau công nguyên từ
vương quốc Bách Tế (nay thuộc Triều Tiên). Lúc bấy giờ quốc vương Bách
Tế đã cử một sứ đoàn mang đến biếu Thiên hoàng Nhật Bản một pho tượng
Phật quý và một số sách kinh điển nhà Phật. Tuy lúc đầu có gặp một số
khó khăn, song nhờ được sự bảo trợ của Nữ hoàng Suiko (593-628), đặc
biệt là của Thái tử Shotoku (574- 622), Phật giáo được truyền bá rộng
khắp đất nước. Đầu thế kỷ thứ IX Phật giáo Nhật Bản chủ yếu phục vụ cho
giới quý tộc cung đình. Đến thời Hei-an (794- 1185) đã xuất hiện và phát
triển hai tông phái lớn là Chân Ngôn tông và Thiên Thai tông. Bước vào
thời Kamakura (1185-1333) Phật giáo trên quần đảo này phát triển rực rỡ
với sự truyền bá của hàng loạt các tông phái mới khác từ Trung Quốc như
Thiền tông (Zen), Tào Động tông, Tịnh Thổ tông... đem lại hy vọng được
giải thoát cho đông đảo các tầng lớp dân chúng. Dưới thời Tokugawa
(1603-1867), do sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền nhằm ngăn chặn ảnh
hưởng của Kitô giáo, Phật giáo và sinh hoạt của hệ thống chùa chiền
trên khắp Nhật Bản cũng gặp nhiều trở ngại. Trong thời Minh Trị, chính
sách quốc giáo hoá Thần đạo đã làm cho Phật giáo phải trải qua một giai
đoạn đầy khó khăn, không ít chùa chiền, tượng Phật bị huỷ hoại. Sau Thế
chiến thứ II, xuất hiện hàng loạt tổ chức tôn giáo mới với tư cách những
phong trào Phật giáo mà một số tổ chức lớn trong đó là Soka Gakkai,
Risshò Kòseikai, Reiyùkai...Trong suốt lịch sử phát triển lâu dài ở Nhật
Bản, Phật giáo không chỉ đơn thuần là một tôn giáo mà còn góp phần đáng
kể vào việc làm giàu nền nghệ thuật và vốn tri thức của Nhật Bản.
Kitô giáo đươc truyền vào Nhật Bản từ nửa cuối thế kỷ XVI và
được phát triển đến đầu thế kỷ XVII. Những tín đồ đầu tiên là những
người đang cần một biểu tượng tinh thần mới trong một xã hội có nhiều
biến động rối ren, những người hy vọng làm giàu trong buôn bán hay muốn
có kỹ nghệ mới, nhất là kỹ nghệ sản xuất vũ khí của phương Tây. Tuy
nhiên, chính quyền Tokugawa (1603-1867) cho rằng Kitô giáo là nguy cơ đe
doạ sự ổn định của trật tự vừa được thiết lập nên đã cấm nó hoạt động.
Kitô giáo bị cấm cho đến tận giữa thế kỷ XIX- khi Nhật Bản lại mở cửa ra
thế giới bên ngoài. Trong số tín đồ Kitô giáo ở Nhật Bản hiện nay tín
đồ Tin lành nhiều hơn tín đồ Thiên chúa.
Lễ hội (Matsuri) và những ngày lễ hàng năm (Nenchù gyòji)
Ở Nhật Bản trong một năm có rất nhiều những ngày diễn ra các sự kiện
sinh hoạt văn hoá lễ nghi có tính định kỳ. Những ngày này được chia một
cách tương đối làm hai loại: Lễ hội (Matsuri) và ngày lễ hàng năm
(Nenchù gyòji). Lễ hội (Matsuri) là cái vốn có của Nhật Bản, bắt nguồn
từ những tín ngưỡng Thần đạo, còn ngày lễ hàng năm (Nenchù gyòji) là
khái niệm rộng hơn chỉ các sự kiện văn hoá diễn ra định kỳ theo mùa
trong năm, rất nhiều trong số đó là những ngày lễ có nguồn gốc từ Phật
giáo hay từ Trung Quốc. Ngày lễ hàng năm (Nenchù gyòji) được diễn ra gắn
với từng mùa tạo thành một thứ lịch về các ngày lễ hàng năm. Có những
lễ hội (Matsuri) cũng là những sự kiện trong lịch những ngày lễ hàng
năm, nhiều sự kiện ngày lễ trong năm mang cả tính chất của lễ hội. Sau
đây là một vài trong số những lễ hội và ngày lễ hàng năm điển hình.
Năm mới (Shògatsu) là lễ hội lớn nhất trong năm của người Nhật. Tuy mỗi
vùng ở Nhật Bản có nghi thức đón năm mới với những nét độc đáo riêng,
nhưng nhìn chung vào dịp này mọi người đều quét dọn và trang trí lại nhà
cửa. Người ta thường dựng kadomatsu (tùng và tre) trước cổng nhà để
chào đón các vị thần (kami) và chăng những sợi thừng rơm có trang trí
những băng giấy cắt ngụ ý bảo vệ cổng nhà khỏi những gì không tinh
khiết. Các thành viên gia đình tụ tập lại để chúc tết nhau, đi lễ cầu
may đầu năm ở đền Thần đạo hay ở chùa, người ta cũng đến thăm hoặc gửi
bưu thiếp chúc tết gia đình bè bạn và những người thân thích khác. Lễ
năm mới diễn ra trong 3 ngày từ mồng một đến mồng ba tháng Một dương
lịch. Trong thời gian này tất cả các công sở và hầu hết các công ty đều
nghỉ việc.
Lễ hội búp bê( Hina matsuri) được tổ chức vào ngày mồng 3 tháng Ba. Các
gia đình có con gái bày một bộ búp bê Hina (gồm có búp bê hình Thiên
hoàng, Hoàng hậu, những người hầu và nhạc công trong bộ trang phục cung
đình cổ xưa), tổ chức ăn bánh hishimochi và uống rượu shirosake (sake
trắng) để mừng ngày hội.
Ngày trẻ em (Kodomo no Hi) diễn ra vào mồng 5 tháng Năm. Ngày xưa gọi là
tết Đoan ngọ và trở thành ngày nghỉ toàn quốc ở Nhật Bản từ năm 1948.
Mặc dù gọi là ngày trẻ em nhưng thực ra đó là ngày lễ dành cho các bé
trai. Các gia đình có con trai thường treo trên nóc nhà mình những dải
cờ hình cá chép tượng trưng cho sức mạnh và trong nhà bày búp bê hình võ
sĩ và áo giáp.
Lễ Bon (Urabon, Obon) được tổ chức vào tháng Bảy (có vùng lại tổ chức
vào tháng Tám) từ ngày 13 đến 15. Đây là dịp để người Nhật tưởng nhớ
linh hồn tổ tiên đã khuất. Theo nghi lễ truyền thống, người ta chuẩn bị
đón tổ tiên về nhà bằng cách lau chùi nấm mộ, dọn đường đi từ mộ về nhà
và cúng những con ngựa và trâu bằng rơm bện như phương tiện đi lại rồi
đốt lửa hay thắp đèn lồng từ mộ đến nhà để chỉ lối cho linh hồn tổ tiên
và người thân đã chết biết lối đi về, làm cỗ cúng gia tiên tại nhà và cử
hành điệu nhảy Bon đặc biệt có tên là odori quanh khu vực cư dân. Bon
là một dịp lễ quan trọng trong năm, các thành viên trong gia tộc dù có
sống xa nhau bao nhiêu thì ngày này cũng cố trở về tụ họp bên nhau để
làm lễ cúng tổ tiên ông bà.
Trà đạo(Sado) là một nghi thức pha trà tiếp khách có tính hệ thống rất
chặt chẽ. Trà đạo bao gồm từ việc chuẩn bị đón khách và mời uống trà
cũng như việc nghiên cứu và khai thác vẻ đẹp của kiến trúc, tạo vườn, đồ
gốm cùng với những tri thức về lịch sử và tôn giáo. Tại đây có sự tổng
hợp của tính sáng tạo nghệ thuật, tính cảm thụ tự nhiên, tư tưởng tôn
giáo và sự xã giao.
Phong tục uống trà xuất hiện ở Nhật Bản khoảng đầu thế kỷ thứ VIII cùng
với sự ảnh hưởng của Phật giáo. Khoảng từ thế kỷ XII, khi các thiền sư
Nhật Bản từ Trung Quốc trở về mang theo lối uống trà mới kiểu Tống với
một loại trà xanh được tán mịn gọi là mạt trà (matcha) thì tục uống trà
trở thành phổ biến. Suốt thời Trung thế, việc uống trà đã lan rộng từ
các thiền viện tới nơi dân chúng với những phong cách mang tính thẩm mỹ
khác nhau. Các hội uống trà và thi hương vị trà đã thu hút chú ý của cả
Thiên hoàng và các tướng quân, các nhà buôn giàu có. Mặc dù việc uống
trà không phải dành riêng cho các thiền viện, nhưng trà lễ (Sarei) với
tư cách là các quy tắc và nghi thức tỉ mỉ cho việc pha và uống trà là do
các thiền sư tạo ra. Sarei mang nhiều đặc tính của Thiền, trong đó sự
thanh tịnh, tính giản dị và mộc mạc đã trở thành những đặc trưng thẩm mỹ
và uống trà, do đó, dần dần trở thành một nghi lễ có tính nghệ thuật.
Trà đạo với những đặc tính thẩm mỹ mà chúng ta được biết đến ngày nay đã
đạt được sự phát triển đầy đủ từ thế kỷ thứ XVI.
Cắm hoa nghệ thuật (Ikebana).
Cắm hoa nghệ thuật (Ikebana) ở Nhật Bản còn được gọi là Hoa đạo
(Kadò), có nguồn gốc từ nghi lễ dâng hoa trong các chùa chiền từ thế kỷ
thứ VI, rồi dần dần phát triển thành một nghệ thuật vào khoảng thế kỷ
thứ XV với nhiều nghi thức và trường phái khác nhau. Hoa đạo khác với
cắm hoa thông thường ở chỗ nó đem lại sự nhận thức về mối liên quan giữa
không gian xung quanh với hoa và cành lá, cách bố cục cành lá, việc lựa
chọn hoa cũng như cây được sử dụng làm vật liệu.
Một phong cách cắm hoa cổ điển và phức tạp có từ xưa, gọi là
rikka (hoa đứng). Phong cách này tìm tòi sự thể hiện vẻ tráng lệ của
thiên nhiên, quy ước rằng hoa phải được cắm theo hình núi Sumeru, một
ngọn núi huyền thoại của thế giới nhà Phật tượng trưng cho toàn vũ trụ.
Các vật liệu được sử dụng cho lối cắm hoa này đều có tính tượng trưng.
Phong cách này đạt tới độ hoàng kim vào thế kỷ XVII, nay không còn phổ
biến nữa.
Từ thế kỷ thứ XV xuất hiện lối cắm hoa tự nhiên. Các ngôi nhà dù
nhỏ đều có kotonoma- một không gian nhỏ thụt vào của căn phòng để đặt
các đồ mỹ nghệ hay để cắm hoa. Các luật lệ cắm hoa theo đó trở nên giản
đơn để mọi người đều có thể thưởng thức được. Cuối thể kỷ XVI có lối cắm
hoa tự nhiên gọi là nageire (quăng vào) như là một phần của nghi lễ trà
đạo. Hoa được sử dụng trong trà đạo được gọi là chabana (trà hoa), chỉ
cần một bông hoa trong một bình hoa tạo nên cảm giác giản dị, thuần
khiết, thanh tao. Cắm hoa hiện đại mang ảnh hưởng nhiều của văn hoá
phương Tây. Phong cách cắm hoa moribana (một rừng hoa) đã mở đường tự do
cho nghệ thuật cắm hoa, tìm cách thu nhỏ một phong cảnh hay một mảnh
vườn. Đó là phong cách cắm hoa có thể thưởng thức được ở bất cứ đâu và
thích hợp với mọi khung cảnh. Ngày nay ở Nhật Bản có khoảng 3000 trường
phái ikebana, trong số đó 3 trường phái có tiếng nhất là Ikenobò, Ohara
và Sògetsu.
|